Ếch thủy tinh chủ yếu sở hữu nền da xanh nõn chuối, nhưng bụng của loài lưỡng cư này lại trong suốt, khiến người quan sát có thể nhìn thấy khá rõ hệ tiêu hóa của chúng.

Là cư dân bản địa ở Venezuela, ếch thủy tinh (Glass Frog) thuộc họ lưỡng cư Centrolenidae. Mặc dù có màu xanh đọt chuối nhưng lớp da ở bụng ếch thủy tinh lại trong suốt, vì vậy tim, gan và ống tiêu hóa của chúng đều lộ rõ.

Ếch thủy tinh (glass frog) thuộc họ lưỡng cư Centrolenidae, có tên khoa học là Hyalinobatrachium valerioi. Chúng được phát hiện lần đầu tiên năm 1872 dựa trên mẫu thu thập ở vùng đông bắc Ecuador.

Ếch thủy tinh và trứng ếch.

Da của ếch thủy tinh giúp ngụy trang trốn tránh kẻ thù

Chúng chủ yếu hoạt động vào ban đêm

Kích thước của ếch thủy tinh không lớn, chúng thường dài từ 3 đến 7,5 cm. Chúng chủ yếu hoạt động vào ban đêm. Hiện giới khoa học chưa biết loài ếch này ăn gì, nhưng họ cho rằng chúng có thể ăn côn trùng nhỏ.

ch thủy tinh có nhiều điểm tương đồng với những loài ếch sống trên cây. Những con ếch ngụy trang bên dưới những tán lá, nhưng chúng luôn luôn ở phía trên mặt nước. Ếch thủy tinh đực có chiều dài 19-28 mm, trong khi ếch cái to hơn từ 23-32 mm. Chúng thường có màu xanh lá cây hoặc màu vàng nhạt. Loài ếch kính Fleischmann kỳ lạ này có khả năng tự biến đổi màu sắc thành màu trong suốt khi gặp kẻ thù. Người ta không biết cụ thể những gì con ếch thủy tinh ăn, nhưng người ta cho rằng chúng ăn côn trùng nhỏ.

Lớp da dưới bụng của loài ếch này khá trong nên có thể nhìn thấy tim, gan, đường tiêu hóa của chúng.

Ếch thủy tinh luôn di chuyển tới sông để đẻ trứng nhưng cư trú chủ yếu trong các khu rừng mưa nhiệt đới.

Ếch thủy tinh luôn di chuyển tới sông để đẻ trứng nhưng cư trú chủ yếu trong các khu rừng mưa nhiệt đới.

Những quả trứng của ếch thủy tinh cũng trong suốt và có thể nhìn thấy phần đầu và đuôi của con nòng nọc. Vào mùa sinh sản, ếch thủy tinh sống dọc con sông, suối và đẻ trứng. Nhưng chúng ưa sống trong các khu rừng ẩm ở Trung và Nam Mỹ.