Sử ghi vua Lê Long Đĩnh do đam mê tửu sắc quá độ nên bị bệnh trĩ rất nặng, đến mức không ngồi được mà phải nằm để nghe các quần thần tâu trình việc nước, nên được gọi là “Ngọa triều hoàng đế”.

Lê Long Đĩnh (986 – 1009) là vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam. Sau khi Lê Hoàn mất vào tháng 3 năm 1005, Lê Long Đĩnh cùng các hoàng tử Ngân Tích, Long Kính, Long Cân tranh giành ngôi vua với thái tử Lê Long Việt. Đến tháng 10 năm 1005, Lê Ngân Tích bị giết, Long Việt lên ngôi vua. Nhưng được 3 ngày thì Lê Long Đĩnh giết anh và giành ngôi. Lê Long Đĩnh xưng là Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế. Ông trị vì 4 năm từ 1005 đến 1009. Cái chết của ông ở tuổi 24 dẫn đến việc chấm dứt nhà Tiền Lê, quyền lực rơi vào tay nhà Lý. Theo sử ghi, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, đặt thụy hiệu cho Lê Long Đĩnh là Lê Ngọa Triều Hoàng đế.

Lê Long Đĩnh được khắc họa trong sử sách là một người dâm đãng, đam mê tửu sắc vô độ.

Trong sử sách, Lê Long Đĩnh hầu như luôn được nhắc đến như là một kẻ dâm đãng, tàn bạo và độc ác. Gần đây xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng ông là vị vua bị bôi nhọ và “đóng đinh” trong lịch sử.

Một trong những chuyện khiến người đời sau thường đưa ra làm dẫn chứng cho việc ông bị bôi nhọ chính là biệt danh “Ngọa Triều hoàng đế”. Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi Long Đĩnh bị bệnh trĩ quá nặng do đam mê tửu sắc quá độ, đến mức không ngồi được mà phải nằm để nghe các quần thần tâu trình việc nước. Những ghi chép này cùng với những miêu tả về một Lê Long Đĩnh tàn bạo, độc ác, có sở thích điên rồ là giết người và nhìn thấy máu chảy đã tạo nên một hình ảnh vị vua cuối cùng của triều Tiền Lê méo mó trong lịch sử.

Bộ phim Về đất Thăng Long tái hiện hình ảnh vua Lý Long Đĩnh độc áo, tàn bạo, bênh hoạn, thích giết người, nhìn thấy máu chảy. Sử ghi, vua thường tự tay đâm chết lợn, gà trước khi chuyển cho nhà bếp nấu nướng, róc mía trên đầu nhà sư rồi giả vờ trượt tay làm chảy máu…

Tuy nhiên, khi xét lại toàn bộ quãng thời gian 4 năm trị vì của vị vua này trong bối cảnh lịch sử lúc đó, nhiều sử gia và nhà khoa học đời sau đã sớm đặt ra những câu hỏi nghi vấn về nhân cách, công trạng cũng như “bệnh án” của Hoàng đế “Ngọa triều”.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên quyển thứ 1 của nhà Nguyễn cho rằng cách gọi này không chính xác vì Long Đĩnh không có thụy hiệu: “Long Đĩnh giết anh mà tự lập, hoang dâm thành bệnh, nằm mà coi chầu, nhân gọi là Ngọa Triều. Sử cũ chép là “Ngọa Triều hoàng đế”, có lẽ là theo tên gọi thời bấy giờ, chứ không phải là tên thuỵ. Chép vậy thật là trái thường quá lắm! Này, đã không có tên thuỵ, thì cứ chép thẳng tên thực, đó là biến lệ của sử Cương mục (Trung Quốc). Nay đổi lại, chép là “Đế Long Đĩnh” để cho hợp với ý nghĩa và thể lệ của Cương mục dẫn trên”.

Còn sử gia Ngô Thì Sĩ thì cho rằng tên gọi này do Lý Công Uẩn đặt để bôi nhọ. Trong Đại Việt sử ký tiền biên có đoạn: “Xét việc Long Đĩnh cướp ngôi, cố nhiên không đáng được thụy hiệu đẹp, mà cái tên Ngọa Triều cũng không đúng. Có lẽ Lý Thái Tổ muốn dùng thụy hiệu xấu để gán cho, mà không biết rằng từ xưa những đế vương nào không đáng làm vua thì gọi là phế đế, mạt đế hoặc lấy cái tên khi bị phế mà chép. Còn như cái hiệu “Ngoạ Triều” thì thô bỉ không căn cứ?”.

Theo ý kiến của một số nhà khoa học ngày nay, bệnh trĩ là bệnh có liên quan đến cấu tạo của thành tĩnh mạch và huyết động học vùng chậu, các tĩnh mạch ở vùng hậu môn phồng lớn ra tạo thành búi trĩ, nếu các búi trĩ chiếm trên 180 độ thì được xếp vào loại 4. Bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm là ở giai đoạn 4, là giai đoạn nặng mà biện pháp điều trị là giải phẫu, các giải pháp này ở gần năm 1010 chưa có.

Khó tin được Lê Long Đĩnh là người “dâm dục quá độ, mắc bệnh không ngồi được” vì trong suốt thời gian ngắn 4 năm cầm quyền ông đã tự mình làm tướng cầm quân đi chinh phạt đến 5 lần và trận chiến cuối cùng mà Lê Long Đĩnh tham dự trước khi ông chết là 2 tháng (trận vua đem quân đi đánh châu Hoan Đường, Thạch Hà vào mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu 1009).  Cầm quân đánh giặc liên miên, lâu dài và thành công như vậy phải là một người khỏe mạnh cường tráng.

Về căn nguyên của bệnh trĩ mà Lê Long Đĩnh mắc phải, sử ghi là do hoang dâm vô độ, tửu sắc liên miên, nhưng cũng theo sử ghi lại những việc mà vị vua này đã làm trong 4 năm trị vì thì thật không hợp lý.  Người gọi là đam mê tửu sắc, suốt ngày chè chén say sưa, hoan lạc liên tục thì đầu óc trống rỗng, sức khỏe lụn bại làm gì có những quyết định sáng suốt, cấp tiến vì dân, vì nước như cho người sang Tống xin 9 bộ sách vĩ đại nhất của Trung Quốc là Dịch, Thi, Thư, Lễ, Xuân thu, Hiếu kinh, Luận ngữ, Mạnh Tử, Chu lễ và kinh sách Đại Tạng; xuống chiếu đóng thuyền để chở người qua lại ở các bến sông thường có nhiều người vì cố qua sông mà chết là Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung; sửa định lại quan chế văn võ theo nhà Tống, xin cho ta sang “hồ thị” ở Ung Châu, mua bán đổi chác với người Tống, sai dân Ái Châu đào kênh, đắp đường từ cửa Vân Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lũng…  Trong 4 năm trị vì mà vua Lê Long Đĩnh làm được từng đó việc hẳn không phải là thường.