Sử sách chép, từ khi lên ngôi, Lê Uy Mục (1505-1509) chỉ ham rượu chè, gái đẹp và giết người; triều chính bỏ bê cho bọn hoạn quan và bên họ ngoại khuynh đảo, lộng hành…

Lê Uy Mục sinh ngày 5 tháng 5 năm 1488, có mẹ là Chiêu Nhân Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, Bắc Giang; lên ngôi vua ngày 22 tháng 1 năm 1505.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Vua mới tên huý là Tuấn, còn gọi là Huyên, là con thứ hai của Hiến Tông, anh thứ của Túc Tông, ở ngôi 5 năm, thọ 22 tuổi, bị Giản Tu Công Oanh đuổi đánh, rồi bị hại, chôn ở An Lăng. Vua nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy”.

“Vua quỷ”

Năm 1507, Lê Tuấn làm vua được 3 năm, lấy hiệu là Đoan Khánh. Nhà Minh sai chánh sứ là Hàn lâm viện biên tu Thẩm Đào và phó sứ Hứa Thiên Tích mang chiếu thư sang phong cho Lê Tuấn làm An Nam Quốc vương, đồng thời ban một bộ mũ áo quan võ bằng da và một bộ thường phục.

Nhìn thấy vị vua trẻ ngồi trên ngai vàng tiếp chuyện đoàn sứ giả, Hứa Thiên Tích đã lẩm bẩm một câu thơ với người xung quanh, rồi chẳng mấy chốc, đã lan truyền tới tất cả triều thần. Đó là: An Nam tứ bách vận ưu trường/ Thiên ý như hà giáng quỷ vương? Tạm dịch: Vận nước An Nam còn dài bốn trăm năm/ Không biết lòng trời thế nào mà lại giáng cho một ông vua quỷ sứ).

Một số sử gia bàn rằng, với việc xem ông vua trẻ Lê Uy Mục là một tên quỷ sứ, có lẽ vị sứ giả nhà Minh nhìn thấy ông có vẻ dữ tợn, ngổ ngáo. Tuy nhiên, cứ nhìn vào những điều ông đã làm trong suốt thời gian trị vì, thì nhận xét này quả chẳng sai chút nào…

“Cực” bê tha và tàn bạo

Theo sử sách, tuy mới 20 tuổi, Lê Uy Mục đã có một thú vui rất man rợ – thích giết người. Đêm nào, ông cũng gọi các phi tần, cung nhân vào uống rượu say sưa, hành lạc vô độ. Khi say, vua giết luôn cả cung nhân vừa được mình ôm ấp. Ai cũng kinh sợ, nhưng vì uy quyền tối thượng của vua, nên không dám chống đối, hay tìm cách trốn tránh.

Đối với triều thần, vua Uy Mục đặc biệt thành kiến với những người trước đây chống đối ông. Những người trong họ nội bị ông đối xử gay gắt. Ông sai “tay chân” thân tín đi dò xét anh em, chú bác của mình; nếu ai có ý khác thì tìm cách hãm hại. Cẩm Giang vương Lê Sùng, Giản Tu Công Lê Đinh đều bị giam, rồi tìm cách thoát ngục trốn ra ngoài…

Vua chỉ tin dùng những người họ mẹ và họ vợ. Vì thế, quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại. Phía Ðông thì làng Hoa Lăng (quê mẹ nuôi), phía Tây thì làng Phù Chẩn (quê mẹ đẻ), đều chuyên cậy quyền thế, dìm hãm triều thần, có khi vì tư ý mà giết hại sinh dân, có khi dùng ngón kín mà yêu sách tiền của: phàm súc vật hoa mầu của dân đều cướp cả; nhà dân ai có đồ vật quý thì đều đánh dấu chữ vào để lấy.

Uy Mục còn ra lệnh cho giết hết những người Chiêm bị bắt làm gia nô trong các điền trang của các thế gia, công thần. Thế nhưng, sự tàn độc đó chưa phải điển hình. Vào tháng 3 năm Đoan Khánh thứ nhất (1505), tức ngay khi vừa lên ngôi báu, Lê Uy Mục đã ngấm ngầm sai kẻ hầu cận giết bà nội – Thái hoàng thái hậu, Trường Lạc hoàng hậu của vua Lê Thánh Tông. Sử sách chỉ viết rất vắn tắt: “Thái hoàng thái hậu thình lình qua đời ở điện Trường Lạc”. Ngoài ra, vua còn cho người giết quan Lễ bộ thượng thư Đàm Văn Lễ và quan Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật, vì lẽ rằng khi vua Hiến Tông mất, bà Thái hậu và hai người này có ý không chịu lập Uy Mục.

Gieo gió ắt gặt bão!

Sự tàn bạo quá đáng của “Vua quỷ” đã dẫn tới cuộc nổi dậy của một số người trong tôn thất, cùng sự hỗ trợ của nhiều quan lại, dòng dõi họ Lê. Tháng 11 năm Kỷ Tỵ (1509), được sự giúp đỡ của Nguyễn Văn Lăng (là bà con với Trường lạc thái hậu), Giản tu Công Oanh giả xưng là Cẩm Giang vương dựng cờ chiêu an. Từ Tây Ðô, Giản Tu Công Oanh đem quân chiếm lại Ðông Kinh (Hà Nội), bắt được và bức Uy Mục tự tử. Đó là tháng 12 năm Kỷ Tỵ (1509).

Vẫn chưa hả dạ vì xét rằng, Uy Mục không những là kẻ bạo ngược, làm hại đất nước, mà còn là kẻ thù không đội trời chung, đã giết hại cả cha mẹ, anh chị em mình, nên Giản Tu Công Oanh không thể để Uy Mục chết an lành. Ông ra lệnh đem xác Lê Uy Mục đặt vào miệng súng, bắn tan hài cốt; chỉ lấy một ít tro tàn đem chôn ở làng Phù Chẩn; đồng thời giáng làm Mẫn Lệ Công.