Khi thanh kiếm rơi xuống nước, vua Lê Thái Tổ sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang và tát hết nước để tìm…, nhưng chẳng thấy đâu cả.

Câu chuyện huyền thoại vua Lê trả gươm cho rùa thần sau khi đánh thắng giặc Minh xâm lược không ai là không nghe kể, không ai là không biết đến ít nhiều thế nhưng những tình tiết thần thoại trong câu chuyện đó trong sử sách dần phai nhạt đi, đến đầu thời Nguyễn thì câu chuyện mang tính trần tục hơn. Sách Tang thương ngẫu lục viết như sau: “Hồ Hoàn Kiếm ở bên cạnh phường Báo Thiên, thành Thăng Long, thông với nước ngoài sông, hình thể rất to rộng. Hồ này là nơi đức Thái Tổ Hoàng Đế (triều trước) đánh rơi thanh kiếm. Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh gươm cổ. Khi làm vua, ngài thường vẫn đeo thanh gươm đó.

Bàn thờ vua Lê có ở đình Nam Hương từ trước khi trùng tu. Ảnh:36phophuong.

Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, chợt thấy một con rùa rất lớn nổi lên mặt nước, bắn nó không trúng. Ngài bèn lấy thanh gươm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước mất, con rùa cũng lặn theo. Ngài giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp bờ ngang, tát hết nước để tìm nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau nhân cái vết bờ ấy chia hồ ra làm hai: Tả vọng, Hữu vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, bỗng có một vệt sáng từ cái đảo trong hồ vọt lên cao, sáng rực tan ra rồi tắt, người ta cho là thanh bảo kiếm bay đi”.

Lê Dụ Tông quy định việc nhập tịch cho người nước ngoài

Trong lịch sử, bên cạnh việc giao lưu buôn bán thì những biến động chính trị xã hội, chiến tranh binh lửa đã dẫn tới việc thương nhân, dân thường, quan chức, binh lính ngoại quốc chạy sang nước ta cư trú, lánh nạn. Đến đời Lê Dụ Tông, vào năm Đinh Dậu (1717) nhằm quản lý tốt hơn các đối tượng này, để họ hòa nhập vào đời sống đất nước, triều đình đã ban hành quy định mới vào tháng 12 năm đó: “Định rõ chế độ khu xử với các khách buôn nước ngoài. Cho phép ở đâu được nhập tịch và chịu tạp dịch ở đó; từ tiếng nói, ăn mặc đến đầu tóc đều phải nhất nhất tuân theo phong tục nước ta. Ai làm trái bị trục xuất về nước” (Đại Việt sử ký tục biên).

Lê Thái Tông – vua trẻ con không cần người nhiếp chính

Nhiếp chính được hiểu như sau, “nhiếp” là nắm, giữ, “chính” là chính trị, là việc trong triều đình. Người thay thế vua điều hành chính sự gọi là nhiếp chính, đây không phải là một chức quan mà là một vị trí tạm thời nhằm giải quyết công việc quốc gia khi nhà vua thân chinh ra trận, vua không đủ kinh nghiệm, không đủ sức khỏe và thường là khi vua còn nhỏ tuổi…

Trong lịch sử Việt Nam, vị vua duy nhất lên ngôi khi còn nhỏ tuổi nhưng không cần người nhiếp chính đó là Lê Thái Tông, hoàng đế thứ 2 của nhà Hậu Lê. Cuối tháng 8 nhuận năm Qúy Sửu (1433) Lê Thái Tổ (Lê Lợi) băng hà, triều thần theo di chiếu lập Hoàng thái tử Lê Nguyên Long lên làm vua vào ngày mồng 8 tháng 9 năm đó, sử chép theo miếu hiệu gọi là Lê Thái Tông, khi ấy vua mới 11 tuổi. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Bấy giờ vua mới 11 tuổi, không cần mẫu hậu che rèm nghe việc mà công việc trong nước đều tự mình làm cả… Vua là bậc hùng tài đại lược, quyết đoán chủ động. Khi mới lên ngôi, nghiền ngẫm tìm phương trị nước, đặt chế độ, ban sách vở, chế tác lễ nhạc, sáng suốt trong chính sự, thận trọng việc hình ngục, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ đầy đủ, đất nước đã đổi thay tốt đẹp”.

Nhà sử học Vũ Quỳnh của triều Lê đánh giá: “Khi vua lên ngôi mới có 11 tuổi, không phải nhờ buông rèm coi chính sự mà mọi việc trong nước đều tự mình quyết định, bên trong chế ngự quyền thần, bên ngoài đánh dẹp di địch. Ngài thông minh trí dũng, còn vượt lên trên cả những vua anh minh đời xưa”.

Lê Thánh Tông phong quan chức cho một gia nô

Gia nô là nô lệ phục dịch, hầu hạ trong các phủ vương công, hoàng thân, đại thần, quan lại và nhà giàu có, địa vị của họ rất thấp kém. Ấy thế mà có một người từ địa vị đó lại được phong làm quan võ, giữ một chức vụ cao cấp, người đó là Đào Bảo.

Đào Bảo là người phương Bắc, sau khi quân Minh bị Lê Thái Tổ đánh bại, người này bị bắt và trở thành gia nô cho một đại thần trong triều rồi thành người hầu hạ Lê Thánh Tông khi ông chưa lên ngôi mà mới đang ở tước vị Bình Nguyên Vương. Nhớ đến công hầu hạ của Đào Bảo nên khi làm vua, Lê Thánh Tông đã phong cho người này đến chức Chỉ huy sứ thủy quân vệ.

Năm Canh Dần (1470) vì phạm tội, vua đã xử phạt nhưng có nương nhẹ Đào Bảo, sử cho biết như sau: “Vua bảo triều thần rằng: Đào Bảo nguyên trước là người Ngô, sau khi thành bị hạ, làm gia nô cho Lê Sát, đến khi nhà Lê Sát bị tịch thu, cho làm nô ở phủ Bình Nguyên. Nay hắn làm trái sắc chỉ, cố ý vi phạm quân lệnh, tội đáng phải chết. Song Đào Bảo đã từng làm tôi tớ cho ta ở phiên để, nên đặc cách tha cho tội chết, đồ làm binh cày ruộng (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lê Hiến Tông đặt lệ treo bảng vàng ở Quốc Tử Giám

Bảng vàng là tấm bảng ghi danh những người đỗ kỳ thi Đình theo thứ bậc khác nhau. Sau khi có bảng vàng, một đại quan của bộ Lễ sẽ mang bảng vàng đi trong một đám rước đến treo bảng lên trước cửa Đông Hoa, một cửa của kinh thành Thăng Long. Đến khoa thi năm Nhâm Tuất (1502) vua Lê Hiến Tông cho treo bảng vàng ở nhà Thái học (còn gọi nhà Quốc học, tức Quốc Tử Giám). Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho hay: “Vua ngự điện Kính Thiên, Hồng lô tự truyền loa xướng danh. Mọi năm bảng vàng vẫn treo ở ngoài cửa Đông Hoa, đến nay vua sai Lễ bộ bưng ra, đánh trống nổi nhạc rước ra treo ở cửa nhà Thái học. Bảng vàng treo ở cửa nhà Thái học bắt đầu từ đó”.

Trên văn bia Tiến sĩ khoa thi này cũng cho biết việc thay đổi đó có mục đích khuyến khích sĩ tử: “Tư thiên giám chọn ngày tốt, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai truyền loa xướng tên người thi đỗ, trăm quan mặc triều phục chúc mừng. Mấy năm trước bảng vàng treo ngoài cửa Đông Hoa, năm nay sai Bộ Lễ rước bảng có trống nhạc dẫn trước, đem treo ngoài cửa nhà Thái học, cốt khiến cho sĩ tử nhìn thấy mà thêm phần khích lệ”.

Lê Tương Dực cho một thí sinh thi lại, chấm đỗ Tiến sĩ

Câu chuyện lạ lùng chưa từng thấy trong các khoa thi trước đó đã diễn ra tại khoa thi năm Giáp Tuất (1514) đời vua Lê Tương Dực. Khoa thi này triều đình chấm 43 người đỗ Tiến sĩ, trong số đó có một người ở kỳ thi Hội đã bị đánh trượt nhưng được vua ưu ái cho thi lại, vào thi Đình được chấm đỗ Hoàng giáp, chỉ đứng sau Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng, Bảng nhãn Nguyễn Chiêu Huấn và Thám hoa Hoàng Minh Tá mà thôi. Người may mắn đó là Nguyễn Vũ, quê ở xã Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai (nay thuộc xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội).

Nguyễn Vũ vốn là một nho sinh, chữ viết đẹp, từng tham gia quân khởi nghĩa lật đổ bạo chúa Lê Uy Mục, có công đưa Lê Tương Dực lên ngôi vì thế được vua yêu mến. Chuyện vua cho ông thi lại rồi cử giữ các chức quan lớn được sách sử cho biết như sau: “Nguyễn Vũ người làng Thiên Mỗ, huyện Từ Liêm, do đỗ tứ trường kỳ thi Hương, viết chữ thảo đẹp, lại theo quân ứng nghĩa, làm quan đến Binh bộ tả thị lang, được vua rất yêu quý. Khoa thi Hội năm Giáp Tuất, Vũ tuổi đã 58, văn viết lủng củng, đã không được trúng tuyển. Vua cho thi lại, lấy đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân. Không bao lâu, làm tới Hình bộ thượng thư kiêm Bảo Thiên điện Đông các đại học sĩ, Hàn lâm viện thừa chỉ nhập thị kinh diên” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Lê Hy Tông và cách xử lý đặc biệt với đại thần phạm tội

Thông thường một đại thần phạm tội, tùy theo mức độ nặng nhẹ mà triều đình áp dụng cách thức xử lý khác nhau như hạ bậc, cách chức cho đến xử tử. Thời Lê Hy Tông cầm quyền, trong vụ xử lý tội trạng của viên Đô đốc Đặng Tiến Quyền, cách thức tiến hành nhẹ nhàng nhưng khiến kẻ phạm tội nhục nhã vô cùng.

Sách Đại Việt sử ký tục biên viết: “Đề bảng nêu tội ác của Đô đốc thiêm sự, Tần quận công Đặng Tiến Quyền ở đường sá và các ngã tư. Tiến Quyền là con Thái tể (Đặng) Thể Tài, cậy thế, ngang ngược kiêu rông, cướp đoạt tiền của, hàng hóa của lái buôn và lữ khách. Việc lên đến trên, sai đề lĩnh yết bảng nêu tội của Quyền ở đường sá, ngã tư. Tiến Quyền thẹn sợ, được vài tháng thì chết”.